Ôn Văn thi Đại học

Ôn Văn thi Đại học

Nguyễn Ai Quốc - Hồ Chí Minh

Mục đích:

Nắm đợc những kiến thức cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của Bác.

Kiến thức cơ bản

1. Bài Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được đặt vào phần ba trong bộ sách giáo khoa Văn cấp PTTH: Văn học

từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhưng đây là bài học về một tác gia mà sự nghiệp

văn chương còn kéo dài tới một phần tư thế kỉ sau Cách mạng. Vì thế, trong bài này, bên cạnh việc nói về

những sáng tác của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trước 1945, ngời học vẫn cần phải học tập cả về thơ văn

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thời gian sau đó. (Cũng như bài về các tác gia Tố Hữu và Nguyễn Tuân

tuy được đặt vào phần bốn: Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, nhưng vẫn nói về những

thành tựu văn chương của hai người trong thời gian trước đó).

 

pdf 120 trang Người đăng kidphuong Ngày đăng 22/06/2016 Lượt xem 429Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Ôn Văn thi Đại học", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
- 1 - 
Nguyễn Ai Quốc - Hồ Chí Minh 
Mục đích: 
Nắm đợc những kiến thức cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp, quan điểm nghệ thuật và phong cách sáng tác của Bác. 
Kiến thức cơ bản 
1. Bài Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được đặt vào phần ba trong bộ sách giáo khoa Văn cấp PTTH: Văn học 
từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám năm 1945. Nhưng đây là bài học về một tác gia mà sự nghiệp 
văn chương còn kéo dài tới một phần tư thế kỉ sau Cách mạng. Vì thế, trong bài này, bên cạnh việc nói về 
những sáng tác của Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh trước 1945, ngời học vẫn cần phải học tập cả về thơ văn 
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong thời gian sau đó. (Cũng như bài về các tác gia Tố Hữu và Nguyễn Tuân 
tuy được đặt vào phần bốn: Văn học từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975, nhưng vẫn nói về những 
thành tựu văn chương của hai người trong thời gian trước đó). 
2. Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh là hai tên khác nhau của một con người duy nhất. Đó là Bác Hồ, nhà cách 
mạng lớn nhất, nhà ái quốc vĩ đại nhất, danh nhân văn hóa tiêu biểu nhất và tác gia văn học quan trọng bậc 
nhất trong lịch sử nước nhà. 
3. Tuy nhiên, hai tên gọi Nguyễn ái Quốc và Hồ Chí Minh lại gắn liền với hai thời kỳ khác nhau trong cuộc 
đời hoạt động cực kì phong phú của Bác. 
a) Nguyễn ái Quốc là tên gọi được biết đến và nhớ đến nhiều nhất trong số nhiều tên mà Bác đã dùng 
trong những năm bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường giải phóng cho Tổ quốc và các dân tộc 
bị áp bức trên thế giới. Trong khi đó, tên Hồ Chí Minh chỉ được Bác dùng từ sau khi trở về đất nước để 
trực tiếp lãnh đạo cách mạng, kháng chiến, và sau đó là công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu 
tranh thống nhất nước nhà. 
b) Riêng trong lĩnh vực sáng tác văn chương, nói đến tác giả Nguyễn ái Quốc là nói đến người đại biểu 
duy nhất cho văn học cách mạng vô sản Việt Nam trong những năm 20 của thế kỉ này, người đã viết 
hàng loạt những truyện ngắn và phóng sự - chính luận đặc sắc, mà tất cả đều có thể coi là những bản án 
chế độ thực dân. 
Còn tên tuổi của nhà thơ Hồ Chí Minh, nhà chính luận Hồ Chí Minh sẽ gợi nhớ đến: 
 Rất nhiều áng thơ đặc sắc, có giá trị t tởng và giá trị nghệ thuật cao, nhất là mảng thơ trữ tình mà tập thơ 
Nhật ký trong tù là kết tinh ngời sáng nhất. 
  Rất nhiều bài văn chính luận giản dị mà sâu sắc, giàu tính chiến đấu mà vẫn nhân hậu, 
khoan hòa, nhiều khi hóm hỉnh, trong đó, thành tựu có tầm vóc lớn lao nhất là bản 
4. Quan điểm nghệ thuật 
a) Nhưng không nên, và cũng không thể tách rời nhà văn Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh khỏi cách mạng 
Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh. Bởi vì viết văn làm thơ - trước hết là làm thơ tuyên truyền cổ động - với 
Bác Hồ, cũng là một hành vi cách mạng, được tiến hành để phục vụ mục đích đấu tranh cách mạng. Không 
vì nhiệm vụ cách mạng, nhiều tác phẩm văn chương của Bác chắc chắn đã không được viết ra 
 Nhưng khi đã vì cách mạng mà viết thì mục tiêu cách mạng cần đạt tới (viết để làm gì ?) và đối tượng cách 
mạng cần tác động (viết cho ai ?) sẽ quyết định sự lựa chọn nội dung (viết cái gì ?) và hình thức (viết như 
thế nào?) của tác phẩm văn chương. Vì thế, nếu ta thấy tác phẩm của Bác mang dáng dấp hiện đại của ph-
ương Tây hay hương vị cổ điển của phương Đông, tìm đến hạc cũ, trăng xưa cao nhã hay vẻ giản dị như lời 
ăn tiếng nói thường ngày thì phải hiểu đó hoàn toàn không phải là sự tùy hứng của cá nhân mà có gốc gác 
từ nhu cầu cách mạng. 
b) Tuy vậy, cũng không thể hiểu một cách máy móc rằng, văn thơ của Bác chỉ được viết ra trực tiếp phục vụ 
một nhiệm vụ cách mạng cụ thể. Cũng có khi, và không ít khi, Bác mượn việc làm thơ để tiêu bớt tháng ngày dài 
(Nhật kí trong tù), hoặc làm thơ khi việc quân nước đã tạm nhàn mà lòng lại đang có hứng. Thơ chính là người. Vẻ 
đẹp của những bài thơ được viết ra trong hoàn cảnh như thế, trớc hết và chủ yếu, là sự phản ánh vẻ đẹp của con 
- 2 - 
người Bác: một trí tuệ sáng láng; một tâm hồn tràn ngập thương yêu thiên nhiên, đất nước, con người; một ý chí 
vững mạnh tới mức vẫn thanh thản, ung dung giữa muôn ngàn gian khó. 
5.Phong cách sáng tác 
a) Như có thể thấy ở trên, phong cách nghệ thuật của Bác Hồ vô cùng đa dạng. Trong văn học Việt Nam hiện đại, 
chưa từng thấy một ai có bản sắc văn chương phong phú thế: viết văn tiếng Pháp rất Pháp, làm thơ chữ Hán thì 
nhiều bài có thể đặt lẫn cùng thơ Tống thơ Đường, tuyên truyền cổ động nhân dân thì có thể nói như ca dao tục 
ngữ, mà nghị luận trước công luận trong nước và quốc tế thì chặt chẽ, tế nhị, đanh thép, hùng hồn. Viết được như 
thế chỉ có thể là một nhà văn hội tụ được tinh hoa của nhiều nền văn hóa, làm chủ được nhiều thủ pháp, thể tài, 
nhiều phong cách ngôn ngữ và loại thể văn chương. 
b)Tuy nhiên, phong cách Nguyễn ái Quốc - Hồ Chí Minh đa dạng mà vẫn thống nhất. Đó là phong cách của một 
người hiểu rất rõ mục đích và đối tượng, một người mà văn phong luôn luôn cô đúc, trong sáng và linh hoạt, một 
người luôn hướng về mặt tích cực, về sự vận động tới ánh sáng, tới tương lai, một người dù viết gì thì sự cao khiết 
và nhân hậu vẫn có thể cảm nhận thấy bên dưới từng hàng chữ. 
Hoàn cảnh sáng tác của Vi hành 
1. Giữa năm 1922, thực dân pháp đưa Vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc triển lãm thuộc địa Vecxây. 
Đây là một âm mưu của chúng nhằm lừa gạt nhân dân Pháp: Vị quốc vương An Nam này đại diện cho 1 dân tộc 
lớn nhất ở Đông Dương, sang Pháp để tỏ thái độ hoàn toàn quy phục “mẫu quốc” và để cảm tạ công ơn “khai hóa” 
của mẫu quốc. Như vậy tình hình Đông Dương là ổn định và tốt đẹp, nhân dân Pháp nên nhiệt tình ủng hộ cuộc 
đầu tư lớn vào Đông Dương để khai thác tài nguyên giàu có ở xứ này và tiếp tục đem văn minh tiến bộ đến cho 
những người dân được nước Pháp bảo hộ. 
2. Nguyễn ái Quốc viết “Vi hành” vào đầu năm 1923 để cùng với vở kịch Con rồng tre truyện ngắn 
“Lời than vãn của bà trng trắc” bài báo “ Sở thích đặc biệt “(Viết năm 1922) lật tẩy âm mu nói trên của 
thực dân Pháp. Đồng thời vạch trần tính chất bù nhìn tay sai dơ dáy của Khải Định và tố cáo tính chất điêu 
trá của những danh từ “Văn minh, khai hóa” của chủ nghĩa thực dân. 
Kiến thức cơ bản 
I. Giới thiệu chung 
1. Vi hành là một truyện ngắn bằng tiếng Pháp, được Nguyễn Ai Quốc viết và đăng ở Pháp, trên báo 
Nhân đạo ngày 19 tháng 2 năm 1923. Đây là một tác phẩm được viết ra vì mục đích cách mạng. Nó 
nằm trong cả một hệ thống những bài văn, bài báo, vở kịch mà Nguyễn á i Quốc đã viết để tập trung đả 
kích tên vua bù nhìn Khải Định khi y sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Macxây năm 1922. Qua 
Vi hành, tác giả muốn cho công luận trong và ngoài nước Pháp thấy rõ rằng cái kẻ đang được đón tiếp 
rùm beng như là thượng khách kia, thực chất chỉ là một tên hề lố lăng, hành vi lén lút và mờ ám mà giá 
trị không hơn một thứ trò giải trí rẻ tiền. 
2. Nhưng nội dung của “Vi hành” không chỉ giới hạn ở ý nghĩa phản phong. Tác phẩm còn là một tiếng 
nói lên án chủ nghĩa thực dân, cái chế độ đã thông qua bọn tay sai làm cho những người dân thuộc địa 
bị suy nhược giống nòi bởi rượu cồn và thuốc phiện, đã theo dõi, rình mò, bám lấy đế giày của những 
người chân chính bằng một chính sách mật thám đê hèn. Chế độ thực dân, do đó, còn là nỗi tủi nhục 
của người bản xứ, là sự sỉ nhục đối với con người. Như thế, “Vi hành” cũng là một trong những 
phương cách mà Nguyễn á i Quốc sử dụng để đạt tới mục đích chống thực dân, đánh đổ phong kiến. 
Việc viết “Vi hành” cũng là một hành vi cách mạng. 
3. Nhưng “Vi hành” cũng là một tác phẩm thực sự có giá trị văn chương, một tác phẩm văn chương đích 
thực. - ở đây, mục đích làm cách mạng không ngăn trở, không gò ép, không đối lập với sáng tạo văn 
chương. Trái lại, mục đích cách mạng rất cần đến sáng tạo văn chương để có thêm sức mạnh. Có thể 
nói, ở “Vi hành” - và cũng không chỉ ở “Vi hành” - nhiệt tình của nhà cách mạng Nguyễn á i Quốc đã 
thôi thúc tài năng của nhà văn Nguyễn á i Quốc. Nguyễn á i Quốc viết “Vi hành” trước hết nhằm vào 
độc giả người Pháp dân Pari vì thế phải viết có nghệ thuật sử dụng bút pháp của châu Âu hiện đại phải 
đưa ra nhiều chi tiết quen thuộc với người Pari phải có thái độ khách quan tránh lời đả kích đao to búa 
lớn. Lấy tố cáo lật tẩy làm mục đích tinh thần châm biếm đả kích phải là tinh thần của tác phẩm. Tinh 
- 3 - 
thần ấy thấm sâu vào toàn bộ tác phẩm từ giọng điệu đến mọi tình tiết linh hoạt biến hoá để có thể 
đánh địch từ nhiều phía và bằng nhiều cách. 
II. Phân tích: “Vi hành” là một tác phẩm văn chương với nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo. 
1. Trước hết phải kể đến sự tạo ra tình huống truyện, tình huống nhầm lẫn - Cái tài của tác giả biểu hiện ở 
chỗ có khả năng dồn nén một nội dung lớn lao, mãnh liệt vào trong một hư cấu nghệ thuật đơn giản 
đến lạ lùng: một khoảnh khắc ngắn ngủi trên một toa xe điện. Vẻn vẹn ba nhân vật, trong đó, một 
người chỉ lặng lẽ nghe và nghĩ ngợi. Còn lại, chỉ là một câu chuyện ríu rít của một đôi trai gái, một câu 
chuyện phù phiếm, bâng quơ, như thường vẫn thế ở kiểu chuyện trò của các cặp tình nhân. ấ y vậy mà 
càng đi sâu vào truyện thì cái cách sắp đặt tưởng chừng đơn giản ấy lại càng lung linh nhiều ánh sáng 
bất ngờ: - Bởi đâu vậy? Bởi tác giả đã đặt cài vào đó một loạt tình tiết thế hiểu lầm. Ban đầu là sự 
nhầm lẫn của đôi tình nhân. Sau đó là sự nhầm lẫn của dân chúng Pháp và cuối cùng chính phủ Pháp 
cũng không còn nhận ra vị thượng khách của mình: 
 Người biết tiếng Pháp thì bị coi là chẳng hiểu gì. Người chẳng phải vua thì lại cho là Hoàng thượng. 
Không có Khải Định thật, mà Khải Định thật vẫn cứ hiện ra, trong một bức biếm hoạ có một không hai 
về một “anh vua” đến thật đúng lúc, để làm một thứ trò tiêu khiển không mất tiền, quá rẻ so với đám “ 
vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên” hay “ sư thánh xứ Công gô” , vào lúc cái kho giải trí đang cạn ráo. Đến 
giữa truyện, tác giả để đôi trai gái xuống tàu. Tưởng chừng với chi tiết đó, truyện không còn khả năng 
diến tiến. Vậy mà hoàn toàn không phải. Hoá ra nhân vật bớt đi, đối thoại không còn, nhưng tình 
huống nhầm lẫn vẫn được giữ nguyên, và bây giờ tác giả tiếp tục khai thác nó theo cách khác. Trước 
đó, “Tôi” bị lầm là Hoàng đế. Bây giờ thì Hoàng đế có thể là “ tôi” và cũng có thể là bất cứ người Việt 
nào trên đất Pháp. Sự phê phán Khải Định chưa dừng lại. Nhưng một nội dung tố cáo khác đã mở ra: sự 
rình mò từng bước chân của người dân thuộc địa; và từ đó, cái muôn ngàn lần cay đắng vì bị mất tự do 
của kiếp người vong quốc. Có thể thấy, việc khéo bố trí một tình huống nhầm lẫn đã cung cấp cho cốt 
truyện một khả năng biến ảo khôn lường. Tạo ra tình huống nhầm lẫn là biện pháp nghệ thuật cơ bản 
nhất. Tình huống ấy làm cho câu chuyện trở lên trớ trêu hài hước kịch tính hơn. Bằng tình huống nhầm 
lẫn “Vi hành” đã góp thêm vào cho kho tàng trào phúng - vốn đã khá phong phú của dân tộc Việt Nam 
một tiếng cười mới mẻ. Đó là một tiếng cười trí tuệ. Nó không giòn giã trên bề mặt mà thâm trầm ở bề 
sâu. Nó chỉ hiện ra, thật chua chát, mỉa mai, sau một quá trình suy nghĩ để nhận ra cái trái tự nhiên 
nằm trong bản thân sự vật. 
2. Hình thức viết thư: Bên dưới nhan đề “V ... a mỗi cá nhân 
không phải là chỉ riêng của cá nhân mà còn là của đất nớc, bởi mỗi cuộc đời đều đợc thừa hởng những di 
sản văn hóa tinh thần vật chất của dân tộc, mỗi cá nhân phải có trách nhiệm gìn giữ, phát triển nó, truyền 
lại cho các thế hệ tiếp theo. Trách nhiệm của mỗi cá nhân không chỉ là bổn phận bảo vệ biên cơng địa 
giới, tiếp nối truyền thống lịch sử, mà còn ở việc bảo lu văn hóa phong tục, giữ gìn nét đẹp tâm hồn tính 
cách dân tộc. Quá khứ luôn có mặt trong hiện tại, lịch sử luôn hiện diện với hôm nay, trong miếng trầu 
của bà, búi tóc của mẹ là cả truyền thống 4000 năm tuổi. Hạt gạo một nắng hai sơng hôm nay cũng là 
những hạt gạo nuôi dỡng dân tộc Việt 4000 năm qua. Trách nhiệm của mỗi ngời đối với đất nớc trong 
hiện tại là sự trân trọng đối với quá khứ là xây dựng nền tảng cho tơng lai, làm nên huyết mạch nuôi dỡng 
có thể đất đai, tạo sức sống trờng cửu của dân tộc. Có lẽ trong thơ ca cha có ai nói một cách chân thành, 
xúc động và thấm thía đến thế về trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với dân tộc đất nớc nh Nguyễn Khoa 
Điềm trong trích đoạn “Đất nớc” này: Đất nớc không chỉ là một khách thể ở ngoài mỗi chúng ta mà tồn tại 
ngay trong cơ thể, sự sống của mỗi con ngời. Sự sống của mỗi cá nhân chỉ có ý nghĩa trong sự trờng tồn 
của đất nớc. 
III. Kết luận 
Đất nớc là đề tài, cảm hứng chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Mĩ. Mỗi nhà thơ lại có cảm nhận 
riêng về Đất nớc nhng tất cả đều xuất phát từ tấm lòng chung đó là tình yêu thiết tha với quê hơng đất nớc. 
Từ thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Khoa Điềm nhận thức sâu sắc vai trò và sự đóng 
góp to lớn, những hi sinh vô vàn của nhân dân trong cuộc chiến tranh dài lâu và cực kì ác liệt này. T tởng 
đất nớc của nhân dân từ trong văn học truyền thống đã đợc Nguyễn Khoa Điềm phát triển đến đỉnh cao, 
mang tính dân chủ sâu sắc. Chất liệu văn hóa dân gian đợc nhà thơ sử dụng nhuần nhuyễn, biến ảo đầy 
sáng tạo chính là nét đặc sắc thẩm mĩ thống nhất với t tởng “đất nớc của nhân dân, Đất nớc của ca dao 
thần thoại” của bài thơ. Nh vậy tác giả đã vợt qua tính thời sự của một thời để nói lên tiếng nói của muôn 
đời . 
Định hớng đề và gợi ý giải 
Đề 1. Phân tích và phát biểu cảm nghĩ của mình về đoạn sau: 
Trong anh và em hôm nay 
Đều có một phần đất nớc 
Khi hai đứa cầm tay 
Đất nớc trong chúng ta hài hòa nồng thắm 
Khi chúng ta cầm tay mọi ngời 
Đất nớc vẹn tròn, to lớn 
Mai này con ta lớn lên 
Con sẽ mang đất nớc đi xa 
Đến những tháng ngày mơ mộng 
Em ơi em đất nớc là máu xơng của mình 
- 117 - 
Phải biết gắn bó và san sẻ 
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở 
Làm nên đất nớc muôn đời... 
Gợi ý: 
Trong phần đầu của đoạn thơ, tác giả đã cảm nhận về đất nớc một cách trọn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình 
diện: thời gian lịch sử và không gian địa lý, huyền thoại, truyền thuyết và đời sống sinh hoạt hàng ngày 
của mỗi gia đình. Đất nớc đợc cảm nhận vừa thiêng liêng, sâu xa lại vừa gần gũi thân thiết. Những dòng 
thơ ở cuối phần là một sự cảm nhận sâu sắc và phát hiện mới mẻ của tác giả về đất nớc trong sự sống, tình 
yêu, trong vận mệnh và trách nhiệm của mỗi cá nhân. 
Trong anh và em hôm nay 
Đều có một phần đất nớc. 
Đất nớc không chỉ là núi sông, rừng, biển, không chỉ là lịch sử dựng nớc và giữ nớc mà Đất nớc còn đợc 
kết tinh và tồn tại trong sự sống của mỗi cá nhân, mỗi chúng ta hôm nay. Quả vậy, sự sinh thành của mỗi 
cá nhân đều có cội nguồn sâu xa từ dân tộc và đợc thừa hởng thành quả vật chất và tinh thần do bao thế hệ 
tạo dựng lên. Nhng sự sống của mỗi cá nhân chỉ có thể tồn tại và có ý nghĩa trong sự hài hòa với những cá 
nhân khác và toàn thể cộng đồng: 
Khi hai đứa cầm tay 
Đất nớc trong ta hài hoà nồng thắm 
Khi chúng ta cầm tay mọi ngời 
Đất nớc vẹn toàn to lớn. 
Đất nớc đợc trờng tồn qua sự tiếp nối của các thế hệ và các thế hệ mai sau sẽ đa đất nớc tới sự phát triển 
xa hơn, đến “Những tháng ngày mơ mộng”. 
Những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện một chân lí giản dị mà sâu sắc về đất nớc. Đất nớc 
không chỉ là một khách thể ở ngoài mỗi chúng ta mà tồn tại ngay trong cơ thể, trong sự sống mỗi ngời. 
Đất nớc trở nên hết sức thiêng liêng mà gần gũi với mỗi ngời. Chân lí ấy một lần nữa đợc tác giả nhắc lại 
nh lời nhắn nhủ tha thiết “Em ơi em, đất nớc là máu xơng của mình”. Từ đó dẫn đến lời nhắc nhở về trách 
nhiệm thiêng liêng của mỗi ngời với đất nớc. 
“Phải biết gắn bó và san sẻ 
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở 
Làm nên đất nớc muôn đời”. 
Đề 2. Vì sao Có thể nói t tởng “Đất nớc của nhân dân” đã qui tụ mọi cách nhìn và đa đến những phát hiện 
độc đáo của tác giả về đất nớc ? 
Gợi ý: 
T tởng “Đất nớc của nhân dân” đã đợc tác giả phát biểu trực tiếp trong phần hai của đoạn thơ “Đất nớc” 
nhng đó cũng chính là t tởng bao trùm, là điểm xuất phát và nơi quy tụ mọi cảm xúc và phát hiện của tác 
giả về đất nớc trong đoạn thơ. 
 Đất nước được cảm nhận trong chiều rộng của không gian, trong vẻ đẹp và sự phong phú của núi 
sông với những thắng cảnh kì thú. Nhng điều quan trọng là tác giả đã phát hiện ra sự gắn bó sâu xa, 
mật thiết của thiên nhiên đất nớc với cuộc sống và số phận của nhân dân, của vô vàn những con ng-
ời bình dị: 
Những ngời vợ nhớ chồng góp cho đất nớc những núi Vọng phu 
- 118 - 
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống mái... 
Ngời học trò nghèo góp cho đất nớc Bút non Nghiên. 
Nhìn vào thiên nhiên đất nớc, nhà thơ đã “đọc” đợc tâm hồn, những ớc vọng và sự gửi gắm của bao thế 
hệ con ngời. Từ đó tác giả cảm nhận đợc một chân lí hiển nhiên và sâu xa: 
Ôi đất nớc, sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy, 
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta 
 Khi nói về lịch sử bốn nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc tác giả không nêu các triều đại, 
các anh hùng nổi tiếng mà mọi ngời đều nhớ, mà trớc hết nhắc đến vô vàn những con ngời bình th-
ờng, vô danh, những ngời “không ai nhớ mặt đặt tên, họ đã sống và chết, giản dị, bình tâm. Nhng 
chính họ đã làm ra đất nớc”. 
Đất nớc còn đợc cảm nhận trong chiều sâu của văn hóa, lối sống, phong tục, của tâm hồn và tính cách 
dân tộc. Để nói về những phơng diện đó, Nguyễn Khoa Điềm cũng lại tìm về với nguồn phong phú của 
văn hóa dân gian. Nhân dân không chỉ là ngời sáng tạo lịch sử, tạo dựng nên các giá trị vật chất mà còn là 
ngời sáng tạo và lu truyền các giá trị văn hóa, tinh thần của dân tộc. Họ đã “truyền lửa qua mỗi ngôi nhà, 
truyền giọng điệu mình cho con tập nói”. Còn vẻ đẹp tâm hồn dân tộc đã đợc kết đọng trong kho tàng 
phong phú, mĩ lệ của ca dao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết và cổ tích. Bởi vậy Nguyễn Khoa Điềm đã rất 
có lí khi nêu một định nghĩa “Đất nớc của ca dao thần thoại” tiếp liền sau mệnh đề “Đất nớc của nhân 
dân”. 
Đề 3. Đoạn thơ có sử dụng nhiều chất liệu của văn học dân gian. Hãy nêu một số ví dụ cụ thể và nhận 
xét về cách sử dụng chất liệu dân gian của tác giả. 
Gợi ý: Đoạn thơ đã sử dụng đậm đặc chất liệu văn hóa dân gian trong đó có văn học dân gian. Từ các 
truyền thuyết vào loại xa xa nhất của dân tộc ta nh Lạc Long Quân và Âu Cơ, Thánh Gióng, Hùng Vơng 
đến truyện cổ tích, nh Trầu Cau, đặc biệt là nhiều câu ca dao, dân ca, của nhiều miền đất nớc: 
 Ví dụ: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Là từ câu ca dao: 
Tay bưng chén muối đĩa gừng 
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau 
 “Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi” gợi nhớ đến câu ca dao: 
“Yêu em từ thuở trong nôi 
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru” 
 “Biết quí trọng công cầm vàng những ngày lặn lội” là đợc rút từ câu ca dao: 
Cầm vàng mà lội qua sông 
Vàng rơi chẳng tiếc, tiếc công cầm vàng. 
Chất liệu văn học dân gian đã đợc tác giả sử dụng vào đoạn thơ một cách linh hoạt và sáng tạo. Không lặp 
lại hoàn toàn các câu ca dao, dân ca, nhà thơ thờng chỉ dùng một hình ảnh hoặc một phần của các câu ca 
đó để đa vào tạo nên câu thơ của mình. Các truyền thuyết và truyện cổ tích cũng đợc sử dụng theo cách 
gợi nhắc tới bằng một hình ảnh hoặc tên gọi. Tác giả vừa đa ngời đọc nhập cả vào môi trờng văn hóa, văn 
học dân gian đồng thời lại thể hiện đợc sự đánh giá, cảm nhận đợc phát hiện của tác giả về kho tàng văn 
hoá tinh thần ấy của dân tộc. 
Gợi ý: Đề 4. Cảm hứng về đất nớc là một trong những cảm hứng chủ đạo của thơ ca Việt Nam từ 1945 - 
1975. Hãy phân tích và so sánh cảm hứng ấy ở các bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nớc (Nguyễn Đình Thi) 
và đoạn thơ Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm). 
- 119 - 
Cần nêu lên điểm chung trong cảm hứng về đất nớc ở ba bài thơ, đó là quan niệm đất nớc gắn liền với 
nhân dân. Điều quan trọng là phân tích làm nổi rõ những nét riêng trong cảm hứng và sự khám phá của 
mỗi tác giả về đất nớc. 
 ở bài Đất nớc của Nguyễn Đình Thi: Từ cảm hứng về mùa thu đất nớc qua những hoài niệm đầy ấn 
tợng về mùa thu Hà Nội năm xa và mùa thu nay ở chiến khu Việt Bắc, tác giả đi tới cái nhìn khái 
quát về đất nớc trong máu lửa, đau thơng nhng đã “rũ bùn đứng dậy sáng lòa”. Bài thơ kết hợp đợc 
những rung cảm tinh tế với những suy tởng khái quát, những hình ảnh cụ thể, gợi cảm và những 
hình ảnh biểu tợng. 
 Bài Việt Bắc của Tố Hữu: cảm hứng về đất nớc gắn liền với cảm hứng về chiến khu Việt Bắc trong 
cách mạng kháng chiến và trong dự cảm về ngày mai tơi sáng. Bài thơ là một khúc hát ân tình ngợi 
ca nghĩa tình gắn bó của nhân dân với cách mạng, của ngời cán bộ cách mạng với chiến khu Việt 
Bắc, của hiện tại với quá khứ. 
 Đoạn thơ “Đất nớc” của Nguyễn Khoa Điềm: Sự cảm nhận về đất nớc mang tính toàn vẹn, tổng hợp 
từ nhiều bình diện không gian địa lý, thời gian lịch sử, chiều sâu văn hóa - phong tục, tâm hồn và 
tính cách dân tộc và tất cả đều làm nổi bật quan niệm đất nớc của nhân dân. 
Đề 5: Tham khảo đề 16 câu 1 phần giới thiệu đề thi 
Lý thuyết 
1. Hồ Chí Minh (khái quát). 
2. Tố Hữu (khái quát). 
3. Nguyễn Tuân (khái quát). 
 4. Xuân Diệu (khái quát). 
5. Hoàn cảnh sáng tác của Vi hành. 
6. Hoàn cảnh sáng tác của Tây tiến. 
7. Hoàn cảnh sáng tác của Tiếng hát con tàu. 
8. Hoàn cảnh sáng tác của Bên kia sông Đuống. 
9. Hoàn cảnh sáng tác của Mới ra tù, tập leo núi. 
10. Hoàn cảnh sáng tác của Việt Bắc. 
11. Hoàn cảnh sáng tác của Tâm t trong tù. 
12. Hoàn cảnh sáng tác của Nhật ký trong tù. 
(Và có thể hỏi về hoàn cảnh sáng tác của một vài tác phẩm khác.) 
Tác phẩm Thơ 
13. Chiều tối - Hồ Chí Minh. 
14. Giải đi sớm - Hồ Chí Minh. 
15. Mới ra tù, tập leo núi - Hồ Chí Minh. 
16. Tâm t trong tù (phần giới hạn) - Tố Hữu. 
17. Việt Bắc - Tố Hữu. 
18. Kính gửi cụ Nguyễn Du - Tố Hữu. 
19. Các vị La Hán chùa Tây Phơng (phần giới hạn) - Huy Cận. 
- 120 - 
20. Bên kia sông Đuống (Phần giới hạn) - Hoàng Cầm. 
21. Tây tiến - Quang Dũng. 
22. Đất nớc - Nguyễn Đình Thi. 
23. Đất nớc - Nguyễn Khoa Điềm 
24. Tiếng hát con tàu (phần giới hạn) - Chế Lan Viên. 
25. Sóng - Xuân Quỳnh. 
Tác phẩm văn xuôi. 
26. Vi hành - Hồ Chí Minh. 
27. Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh. 
28. Ngời lái đò sông Đà - Nguyễn Tuân. 
29. Đôi mắt - Nam Cao. 
30. Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài. 
31. Vợ nhặt - Kim Lân. 
32. Mùa lạc - Nguyễn Khải. 
33. Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành. 
34. Mảnh trăng cuối rừng - Nguyễn Minh Châu. 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfOn Van thi dai hoc 2010 - Day Du.pdf