Ôn tập văn xuôi Việt Nam hiện đại - Truyện ngắn vợ chồng A Phủ (trích) Tô Hoài

Ôn tập văn xuôi Việt Nam hiện đại - Truyện ngắn vợ chồng A Phủ (trích) Tô Hoài

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI

- Học thuộc mục 1-2 ñể viết phần mở bài và phần khái quát trong thân bài khi làm văn ở bất cứ ñề

bài nào về truyện ngắn.

- Học thật kĩ mục 3: ðây là phần kiến thức quan trọng nhất, phải nhớ chính xác các nhân vật, sự

việc, chi tiết theo diễn biến cốt truyện theo từng ñoạn truyện. (ðặc biệt nhớ chính xác, ñủ, ñúng trình tự

diễn biến tâm trạng và hành ñộng của Mị trong hai cảnh: ñêm mùa xuân và ñêm cứu A Phủ). Hiểu,

phân tích ñược ý nghĩa các sự việc, chi tiết ấy, ñể từ ñó làm các ñề bài phân tích nhân vật hay phân tích

giá trị tác phẩm.

- Học thuộc mục 4 ñể củng cố giá trị tác phẩm và trả lời câu hỏi tái hiện kiến thức (nếu có).

pdf 11 trang Người đăng kidphuong Ngày đăng 22/06/2016 Lượt xem 824Lượt tải 0 Download
Bạn đang xem tài liệu "Ôn tập văn xuôi Việt Nam hiện đại - Truyện ngắn vợ chồng A Phủ (trích) Tô Hoài", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 1 
Truyện ngắn 
VỢ CHỒNG A PHỦ 
(trích) 
Tô Hoài 
HƯỚNG DẪN HỌC BÀI 
- Học thuộc mục 1-2 ñể viết phần mở bài và phần khái quát trong thân bài khi làm văn ở bất cứ ñề 
bài nào về truyện ngắn. 
- Học thật kĩ mục 3: ðây là phần kiến thức quan trọng nhất, phải nhớ chính xác các nhân vật, sự 
việc, chi tiết theo diễn biến cốt truyện theo từng ñoạn truyện. (ðặc biệt nhớ chính xác, ñủ, ñúng trình tự 
diễn biến tâm trạng và hành ñộng của Mị trong hai cảnh: ñêm mùa xuân và ñêm cứu A Phủ). Hiểu, 
phân tích ñược ý nghĩa các sự việc, chi tiết ấy, ñể từ ñó làm các ñề bài phân tích nhân vật hay phân tích 
giá trị tác phẩm. 
- Học thuộc mục 4 ñể củng cố giá trị tác phẩm và trả lời câu hỏi tái hiện kiến thức (nếu có). 
* 
1. Giới thiệu tác giả – tác phẩm: 
Tô Hoài sáng tác ở cả hai thời kì trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Ông là một nhà văn 
lớn, ñã ñóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam hiện ñại một số lượng tác phẩm kỉ lục với nhiều thể loại 
như: truyện ngắn, tiểu thuyết, tự truyện Ông cũng là một nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc 
và có nhiều tác phẩm thành công viết về phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau trên ñất nước ta. 
Thành công xuất sắc của Tô Hoài là những tác phẩm viết về hiện thực cuộc sống, con người vùng ñất 
Tây Bắc, tiêu biểu là truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. 
2. Hoàn cảnh sáng tác – tóm tắt truyện: 
Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” ñược sáng tác năm 1952, trong tập “Truyện Tây Bắc”. 
Truyện kể về Mị, một cô gái trẻ, ñẹp, thổi sáo giỏi, ñã có người yêu. Vì món nợ truyền kiếp, Mị 
phải làm vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra, cuộc sống cực khổ, ngày tết Mị muốn ñi chơi nhưng bị A 
Sử trói ñứng vào cột. Truyện còn kể về A Phủ, một chàng trai mồ côi, nghèo, lao ñộng giỏi, ñi chơi tết, 
ñánh A Sử, bị xử kiện rồi trở thành nô lệ cho nhà Pá Tra. ðể mất một con bò, A Phủ bị Pá Tra trói 
ñứng vào cột mấy ngày ñêm. Sau ñó, Mị ñã cắt dây trói cứu A Phủ, và cùng A Phủ trốn khỏi nhà Pá 
Tra, trốn khỏi Hồng Ngài. Họ thành vợ chồng, tới Phiềng Sa, ñược cán bộ A Châu giác ngộ cách mạng, 
A Phủ trở thành ñội trưởng du kích ñánh Pháp bảo vệ dân làng. 
3. Tìm hiểu nội dung ñoạn trích: Sưới ñây là những nội dung chính từng ñoạn truyện và gợi ý 
phân tích (phần chữ nghiêng) 
a. ðoạn 1: Từ ñầu ñến “ con trai thống lí Pá Tra”: Giới thiệu nhân vật Mị 
- Giới thiệu Mị là “cô con gái” ngồi quay sợi gai bên tảng ñá, cạnh tàu ngựa trước cửa nhà thống lí Pá 
Tra. Dù làm bất cứ công việc gì thì cô ấy “cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Người ta nghĩ Mị là 
con gái nhà giàu thì sao lại phải khổ. Nhưng hỏi ra mới biết Mị không phải là con gái Pá Tra mà là 
vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra. 
 Giới thiệu ngắn gọn, tạo ñược chú ý với nhân vật, gợi ra số phận ñau khổ của Mị. 
b. ðoạn 2: Tiếp ñến “Không thể làm thế nào khác ñược rồi”: Kể nguyên nhân Mị làm dâu: 
- Mị là cô gái ñẹp, những ñêm tết “trai ñến ñứng nhẵn cả chân vách ñầu buồng Mị”, Mị cũng ñã có 
người yêu. Nhưng Mị phải làm dâu nhà Pá Tra, vì khi bố mẹ Mị cưới nhau không có tiền phải vay nợ 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 2 
của thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Món nợ lãi ấy trả ñến khi mẹ Mị ñã chết, bố Mị ñã già, 
Mị ñã “biết cuốc nương làm ngô” mà vẫn chưa hết. Pá Tra thấy bố Mị không thể trả nợ, nên nói với 
bố Mị cho Mị về làm dâu thì xóa hết nợ cho. Bố Mị thương con nhưng hiểu rằng “không thể làm thế 
nào khác ñược rồi!”. Mị trở thành con dâu Pá Tra nhưng là con dâu trừ nợ. 
 Phân tích thấy ñược Mị có số phận bi thảm, là nạn nhân của chế ñộ cho vay lãi, bị tước ñoạt tự 
do, hạnh phúc cá nhân. Thấy ñược Pá Tra tàn bạo, thâm ñộc, là kẻ tước ñoạt tự do, hạnh phúc 
của Mị. 
c. ðoạn 3: Tiếp ñến “ A Sử ñi chơi bị ñánh vỡ ñầu”: Kể Mị sau khi bị bắt làm dâu 
- Lúc mới bị bắt: Mị quá ñau khổ ‘có ñến hàng mấy tháng ñêm nào Mị cũng khóc”. Mị trốn về nhà 
cùng với nắm lá ngón. Gặp bố, Mị “quì lạy, úp mặt xuống ñất nức nở”. Bố Mị hiểu: Mị ñịnh tự tử, 
nên nói với Mị: Mị chết, nhưng nợ vẫn còn, bố Mị thì ốm quá yếu rồi, không thể trả ñược. Nghe lời 
bố, Mị “không ñành lòng chết”, Mị thấy nếu Mị chết thì bố Mị còn khổ hơn bao nhiêu lần bây giờ 
nữa nên “ñành trở lại nhà thống lí”. 
 Phân tích thấy ñược: Mị có tinh thần phản kháng, có lòng hiếu thảo. 
- Sau khi bố chết: Mị không còn ý ñịnh tự tử vì “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Mị tưởng 
mình cũng là con trâu, con ngựa, chỉ biết việc ăn cỏ, biết ñi làm mà thôi. Mị “cúi mặt không nghĩ 
ngợi nữa”, chỉ nhớ ñi nhớ lại những việc phải làm Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, ñêm nó còn 
ñược ñứng gãi chân, ñứng nhai cỏ, ñàn bà con gái trong nhà Pá Tra thì “vùi ñầu vào việc làm cả ñêm 
lẫn ngày”. Mỗi ngày Mị càng không nói, “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Cái buồng của Mị 
kín mít, chỉ có một chiếc cửa sổ bàng bàn tay Mị nghĩ rằng mình cứ ở trong cái lỗ vuông ấy mà 
trông ra ñến bao giờ chết thì thôi. 
 Phân tích thấy ñược: Cuộc sống làm dâu của Mị chỉ là nô lệ, bị ñày ñọa về thể xác, bị tê liệt về 
tinh thần. Mị như ñã vô cảm, không còn mong ước, khát vọng. Càng thấy số phận bi thảm của 
Mị. 
- Tết ñến, không khí vui tươi. Trong các làng Mèo ðỏ, những chiêc váy hoa phơi trên mỏm ñá “xòe 
như con bướm sặc sỡ”, ñám trẻ ñợi Tết “cười ầm trên sân chơi trước nhà”. Ngoài ñầu núi “lấp ló” có 
tiếng sáo rủ bạn ñi chơi. Không khí mùa xuân khiến Mị thay ñổi tâm trạng. 
- Mị nghe tiếng sáo thấy “thiết tha bổi hổi”, rồi “nhẩm thầm bài hát của người ñang thổi”(lời bài hát 
trong sgk) Mị lén lấy hũ rượu ‘cứ uống ực từng bát”. Mị say, nhìn mọi người nhảy ñồng, người hát 
nhưng “lòng Mị thì ñang sống về ngày trước”. Mị nhớ lại: Mị thổi sáo giỏi, có biết bao nhiêu người 
mê “ngày ñêm thổi sáo ñi theo Mị”. 
- Rượu tan, người về, người ñi chơi, Mị vẫn “ngồi trơ một mình giữa nhà”. Rồi Mị vào buồng, chẳng 
năm nào A sử cho Mị ñi chơi Tết, Mị cũng “chẳng buồn ñi”. Mị ngồi xuống giường và trông ra cái 
cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Nhưng ñã từ nãy, Mị “thấy phơi phới trở lại”, ñột nhiên thấy 
“vui sướng như những ñêm Tết ngày trước”. Mị thấy mình còn trẻ, Mị “muốn ñi chơi”. Mị thấy “bao 
nhiêu người có chồng cũng ñi chơi ngày Tết”. Nhớ tới A Sử “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở 
với nhau”, Mị muốn “chết ngay” chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Tiếng 
sáo “gọi bạn yêu” vẫn “lửng lơ” bay ngoài ñường (lời bài hát trong sgk) 
- A Sử về, Mị không nói, ñến góc nhà, xắn một miếng mỡ “bỏ thêm vào ñĩa ñèn cho sáng”, trong ñầu 
Mị ñang rập rờn tiếng sáo, Mị “muốn ñi chơi”, “sắp ñi chơi”, Mị “quấn lại tóc”, “với tay lấy cái váy 
hoa”. A Sử hỏi Mị “Mày muốn ñi chơi à ?”. Mị không nói. A Sử trói ñứng Mị vào cột nhà bằng thắt 
lưng, bằng dây ñay, quấn cả tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng ñầu ñược nữa. Trói 
vợ xong, A Sử tắt ñèn ñi ra, khép cửa buồng lại. 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 3 
- Mị “tưởng như không biết mình ñang bị trói”. Hơi rượu còn nồng nàn, Mị “vẫn nghe tiếng sáo”, ñưa 
Mị ñi theo những cuộc chơi, những ñám chơi. Mị “vùng bước ñi”. Dây trói ñưa Mị trở lại thực tại, 
Mị “không nghe tiếng sáo nữa, chỉ còn nghe tiếng chân ngựa ñạp vào vách”. Mị “thổn thức nghĩ 
mình không bằng con ngựa”. Suốt ñêm bị trói, Mị “lúc mê, lúc tỉnh”. Lúc thì khắp người bị dây trói 
thít lại ñau nhức, lúc lại “nồng nàn tha thiết nhớ”. 
 Phân tích thấy ñược: Vô cảm chỉ là bề ngoài, trong Mị vẫn luôn cháy bỏng niềm khao khát tự 
do, Mị ñã hành ñộng ñể có tự do. Mị có chồng nhưng không có hạnh phúc, Mị khao khát hạnh 
phúc yêu thương. ðó là sức sống tiềm tàng trong tâm hồn Mị. Nhưng khát vọng của Mị bị vùi 
dập phũ phàng, số phận Mị thật bi thảm, A Sử thật tàn nhẫn. 
d. ðoạn 4: Tiếp ñến hết ñoạn lược trích trang 13 “A Phủ vẫn bị trói”: Kể về A Phủ 
- Khi còn nhỏ: Bố mẹ, anh em A Phủ ñã chết trong dịch ñậu mùa. Mới mười tuổi, A Phủ ñã có “gan 
bướng”. Bị người làng bán xuống cánh ñồng thấp, A Phủ trốn lên núi cao lưu lạc tới Hồng Ngài. Khi 
lớn lên: A Phủ lao ñông giỏi, “biết ñúc lưỡi cày, biết ñục cuốc, lại cày giỏi và ñi săn bò tót rất bạo”. 
A Phủ có sức khỏe “chạy nhanh như ngựa”. Con gái trong làng nhiều người “mê” A Phủ. Nhiều 
người nói: có ñược A Phủ “như có một con trâu tốt trong nhà”. Nhưng A Phủ không thể lấy nổi vợ vì 
A Phủ “không có bố mẹ, không có ruộng, không có bạc”. 
 Phân tích thấy ñược: A Phủ có hoàn cảnh ñáng thương, có phẩm chất tốt nhưng không có hạnh 
phúc. A Phủ là nạn nhân của sự phân biệt giàu nghèo. 
- A Phủ ñi chơi Tết, ñánh A Sử, bị bắt, bị xử kiện. Vụ xử kiện diễn ra kì lạ: ðầu tiên là tiệc hút thuốc 
phiện của bọn chức việc gồm mấy chục người. Hút xong một lượt mỗi người năm ñiếu thuốc, Pá Tra 
gọi A Phủ ra quì giữa nhà, bọn trai làng xô ñến ñánh A Phủ. Mặt A Phủ xưng lên, môi và ñuôi mắt 
giập, chảy máu. Cứ xong một lượt hút, A Phủ lại ra quì giữa nhà, lại bị ñánh. Cứ như thế, “suốt 
chiều, suốt ñêm, càng hút, càng tỉnh, càng ñánh, càng chửi, càng hút”. 
- Sáng hôm sau, A Phủ bị Pá Tra kết tội: A Phủ “ñánh con quan làng ñáng lẽ phải tội chết”, nhưng 
làng tha cho ñược sống, nhưng phải nộp phạt “một trăm bạc trắng”. A Phủ không có tiền thì Pá Tra 
cho vay và phải làm “con trâu, con ngựa” cho nhà Pá Tra ñể trả nợ. 
- A Phủ thành nô lệ cho nhà Pá Tra, ñi chăn bò ngoài rừng, không may ñể mất một con bò, A Phủ bị 
Pá Tra trói ñứng vào cột mấy ngày ñêm. A Phủ sẽ chết nếu không có Mị cứu. 
 Phân tích thấy ñược: A Phủ là nạn nhân bi thảm của sự bất công, thấy sự tàn bạo của bọn 
phong kiến chúa ñất. 
e. ðoạn 5: Còn lại: Kể Mị cắt dây trói cứu A Phủ 
- A Phủ là chàng trai nghèo, ñi chơi Tết, ñánh A Sử, bị bắt, bị xử kiện và trở thành nô lệ cho nhà Pá 
Tra. ðể mất một con bò, A Phủ bị Pá Tra trói ñứng vào cột mấy ngày ñêm. Nơi A Phủ bị trói gần bếp 
lửa hàng ñêm Mị vẫn hơ tay. 
- Mấy ñêm ñầu, nhìn A Phủ bị trói, Mị “thản nhiên”, vô cảm, “nếu A Phủ là cái xác chết ñứng ñấy, 
cũng thế thôi”. Sau ñó, trong một ñêm thổi lửa hơ tay, Mị nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò 
xuống hai hõm má ñã xám ñen lại” của A Phủ. Tâm Trạng Mị thây ñổi. Mị “chợt nhớ lại ñêm năm 
trước” A Sử trói Mị, trói ñứng, nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ mà không thể 
lau ñi ñược. Mị còn nhớ có người ñàn bà từng bị trói cho ñến chết trong nhà Pá Tra. Mị nhận thấy 
cha con Pá Tra “thật ñộc ác”, Nhận thấy chỉ ñêm mai là A Phủ sẽ chết, “chết ñau, chết ñói, chết rét, 
phải chết”. Mị nghĩ về thân phận mình ñã bị bắt “trình ma nhà nó rồi” thì chỉ còn biết “ñợi ngày rũ 
xương ở ñây thôi”. Còn A Phủ “việc gì mà phải chết thế”. Mị “phảng phất” nghĩ A Phủ có thể trốn 
thoát khỏi nhà Pá Tra. Lửa ñã tắt, Mị không thổi lửa, cũng không ñứng lên. Mị tưởng tượng, có thể 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 4 
một lúc nào A Phủ trốn ñược, bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị ñã cởi trói cho A Phủ và Mị phải trói thay 
vào ñấy, “phải chết trên cái cọc ấy”. Nghĩ thế nhưng Mị cũng “không thấy sợ”. Rồi Mị hành ñộng 
ñột ngột, lấy dao cắt lúa cắt nút dây mây cho A Phủ. ðến lúc gỡ hết ñược dây trói ... à khung cảnh của mùa xuân, âm thanh của tiếng sáo cùng với men rượu nồng nàn ñã ñánh thức 
tâm hồn Mị, khơi dậy trong Mị những kí ức tươi ñẹp. Có lẽ Mị ñang muốn trở về với quá khứ, với tuổi 
xuân hạnh phúc của mình. ðó là lòng khao khát tự do, khao khát yêu thương ở Mị. 
Tuy vậy, Mị vẫn không thoát ra khỏi thực tại. Tiệc rượu tan, người về, người ñi chơi vãn cả, chỉ 
còn Mị “ngồi trơ một mình giữa nhà”. Mãi sau Mị mới ñứng dậy. Mị không ra ñường chơi mà “từ từ 
bước vào buồng”, rồi ngồi xuống giường và “trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng”. Bởi Mị 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 9 
nhớ rằng: “chẳng năm nào A Sử cho Mị ñi chơi Tết”, Mị cũng “chẳng buồn ñi”. Nhưng ñã từ nãy, Mị 
“thấy phơi phới trở lại”, Mị thấy trong lòng “ñột nhiên vui sướng như những ñêm Tết ngày trước”. Mị 
thấy mình “vẫn còn trẻ”. Mị “muốn ñi chơi”. Mị thấy “bao nhiêu người có chồng cũng ñi chơi Tết”. Mị 
ñã so sánh giữa họ với mình. Mị không ñược như họ. Muốn ñi chơi Tết cũng là muốn có tự do. Mị 
ñang khao khát có một chút tự do mà tất cả những phụ nữ có chồng như Mị ai cũng có ñược. Rồi Mị 
nghĩ tới A Sử, “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này 
thì Mị sẽ “ăn cho chết ngay” chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra. Trong khi 
ñó, tiếng sáo “gọi bạn yêu” vẫn lửng lơ bay ngoài ñường: 
“Anh ném pao, em không bắt 
 Em không yêu, quả pao rơi rồi.” 
Một người phụ nữ có chồng, khi nghĩ ñến chồng mà “muốn chết ngay” là người phụ nữ không 
có hạnh phúc. Mị không có hạnh phúc. Mị ñang khao khát hạnh phúc. Nhất là khi Mị lại nghe thấy 
tiếng sáo, không còn là tiếng sáo “rủ bạn ñi chơi” mà là tiếng sáo “gọi bạn yêu”. Nó không “lấp ló 
ngoài ñầu núi” mà nó “lửng lơ bay ngoài ñường”, như mời gọi, như quyến rũ. Tiếng sáo yêu ở gần, gần 
lắm ! Nhưng hạnh phúc của Mị thì lại quá xa vời, ñã chìm vào quá khứ, ñã mất với thời gian. 
Trong lúc Mị ñang ñắm mình theo tiếng sáo thì A Sử về. Mị không nói, nhưng có lẽ sự xuất 
hiện của A Sử ñã thổi bùng lên khát vọng tự do trong Mị. Mị hành ñộng. Mị ñến góc nhà, lấy ống mỡ, 
“xắn một miếng bỏ thêm vào ñĩa ñèn cho sáng”. Có lẽ, lần ñầu tiên sau bao nhiêu năm làm dâu, Mị có 
ý ñịnh thắp sáng thêm căn buồng u tối của mình. Người con dâu khốn khổ ấy như ñã lấy chính ánh 
sáng của niềm khát khao ham sống, khát khao hạnh phúc tình yêu vừa bừng lên trong tâm hồn mình ñể 
tiếp thêm ánh sáng cho ngọn ñèn le lói ở góc buồng. ðó cũng là hành ñộng của sự tự thức tỉnh, khát 
khao thắp sáng cuộc ñời mình. Ngọn lửa của ñĩa ñèn làm bùng lên “ngọn lửa” trong lòng Mị. Mị muốn 
ñi chơi, Mị cũng sắp ñi chơi. Mị thừa hiểu rằng “chẳng năm nào A Sử cho Mị ñi chơi Tết”, nhưng bây 
giờ thì Mị “quấn lại tóc, với tay lấy cái váy hoa” ñể sửa soạn ñi chơi, bất chấp sự có mặt của A Sử. 
Không trả lời khi A Sử hỏi, hành ñộng của Mị diễn ra ngay trước mặt A Sử như một thách thức, là sự 
“nổi loạn”, là ñấu tranh ñể có tự do. 
Nhưng khát vọng tự do của Mị vừa bùng lên ñã bị A Sử phũ phàng dập tắt. Hắn ñã bắt Mị trói 
ñứng vào cột nhà bằng cả thúng sợi ñay, còn “quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không 
nghiêng ñầu ñược nữa”. Trói vợ xong, A Sử tắt ñèn, ñi ra, khép cửa buồng lại. Trong bóng tối, Mị “như 
không biết mình ñang bị trói”. Mị vẫn nghe tiếng sáo. Tiếng sáo ñưa Mị ñi theo những cuộc chơi, 
những ñám chơi. Mị ñang còn sống thực trong cảnh ảo, như một kẻ mộng du. ðến khi vùng bước ñi, 
nhưng tay chân ñau không cựa ñược, Mị mới trở về với thực tại phũ phàng. Mị “không nghe tiếng sáo 
nữa”, chỉ “nghe tiếng chân ngựa ñạp vào vách”, Mị “thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa”. Tiếng 
“thổn thức” của Mị cũng là tiếng “thổn thức” của nhà văn, cũng là tiếng “thổn thức” của người ñọc, là 
tiếng cảm thương cho số kiếp của một con người mà không ñược làm người. 
Sau ñêm mùa xuân bị trói ấy, Mị trở lại cuộc sống vô cảm. Nhưng sức sống của Mị không 
hề mất ñi, nó còn ñược dịp bùng lên mãnh liệt trong một ñêm ñông - ñêm Mị cứu A Phủ và tự 
cứu mình. 
Trong ñêm Mị bị trói, cũng là ñêm A Sử ñi chơi và bị A Phủ ñánh bị thương. A Phủ là chàng 
trai mồ côi, nghèo, lao ñộng giỏi, có “gan bướng” từ nhỏ. ði chơi tết, ñánh A Sử, A Phủ bị bắt, bị xử 
kiện rồi trở thành người ở cho nhà Pá Tra. ðể mất một con bò, A Phủ bị Pá Tra trói ñứng vào cột. Nơi 
A Phủ bị trói gần bếp lửa hằng ñêm Mị vẫn thổi lửa hơ tay. A Phủ bị trói ñã mấy ñêm rồi. Nhìn thấy A 
Phủ bị trói Mị “thản nhiên”, vô cảm. Nếu A Phủ “là cái xác chết ñứng ñấy, cũng thế thôi”. A Phủ bị 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 10 
trói ñứng, A Phủ ñã khóc. Khi ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị ñã nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp 
lánh bò xuống hai hõm má ñã xám ñen lại” của A Phủ, thái ñộ của Mị ñã thay ñổi. 
Dòng nước mắt của A Phủ ñã ñưa Mị ra khỏi cõi quên ñể trở về cõi nhớ. Và Mị “nhớ lại”: ñêm 
năm trước, khi bị A Sử trói, cũng trói ñứng, Mị ñã nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống 
cổ mà không biết làm cách nào lau ñi ñược. Dòng nước mắt của A Phủ ñã giúp Mị nhớ ra mình, xót xa 
cho mình. “Thương người như thể thương thân”, nhưng sự thương người không thể sinh ra khi sự 
thương mình còn chưa có. ðúng là từ lúc biết thương mình, Mị mới có sự ñồng cảm với A Phủ, một 
người có cùng cảnh ngộ. 
Không dừng lại ở ñó, ý nghĩ của Mị còn ñi xa hơn, không phải cảm tính mà là lí tính. Mị nhận 
thấy “chúng nó thật ñộc ác”, nhận thấy nguy cơ cái chết sẽ ñến với A Phủ chỉ trong ñêm mai, “chết 
ñau, chết ñói, chết rét, phải chết”. Mị lại nghĩ về mình là thân ñàn bà, ñã bị “trình ma nhà nó rồi thì chỉ 
còn biết ñợi ngày rũ xương ở ñây thôi”. Chuyển ý nghĩ từ mình sang A Phủ, Mị thấy “người kia việc gì 
mà phải chết thế. A Phủ  Mị phảng phất nghĩ như vậy”. Dù ý nghĩ của Mị chỉ là “phảng phất”, hai 
tiếng “A Phủ” chỉ là lần ñầu tiên rung lên như hơi thở trong lòng Mị, nhưng nó là tiếng nói của tình 
thương. Hẳn là trong cái “phảng phất” ấy, Mị có nghĩ ñến việc cứu A Phủ khỏi chết, nhưng Mị chưa 
hành ñộng. Mị ñã hình dung: ñến một lúc nào, khi A Phủ trốn ñi rồi, bố con Pá Tra bảo là Mị ñã cởi 
trói cho A Phủ, Mị liền phải trói thay vào ñấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. 
Nhưng Mị “không thấy sợ”, Mị ñã hành ñộng: Mị lấy con dao nhỏ cắt lúa cắt nút dây mây trên 
người A Phủ. ðến lúc gỡ ñược hết dây trói trên người A Phủ thì Mị “cũng hốt hoảng”, Mị chỉ thì thào 
ñược một tiếng “ði ngay” rồi Mị “nghẹn lại”. Mị sợ ! ðúng vậy, bởi chỉ một lát nữa thôi Mị phải trói 
vào cái cọc ấy, “phải chết trên cái cọc ấy”. Cắt dây trói cho A Phủ, Mị ñã tự kí tên vào bản án tử hình 
cho mình. Nhưng Mị ñã chấp nhận thế, Mị ñã dùng tính mạng mình cứu mạng cho A Phủ. Lòng thương 
người, cứu người ñã khiến Mị hành ñộng như vậy. 
Khi A Phủ ñi rồi thì Mị “ñứng lặng trong bóng tối”. Trong giây phút “ñứng lặng” ngắn ngủi ấy 
Mị ñã một có một quyết ñịnh táo bạo, táo bạo hơn cả khi Mị cắt dây trói cho A Phủ: Mị “vụt chạy ra”, 
ñuổi kịp A Phủ, cùng A Phủ trốn khỏi nhà Pá Tra, trốn khỏi Hồng Ngài. 
ðiều gì ñã khiến cho Mị hành ñộng như vậy ? Có lẽ trong giây phút ngắn ngủi “ñứng lặng trong 
bóng tối ấy” ấy, Mị ñã nghĩ rằng: chỉ vừa mới ñây A Phủ còn ñang mất tự do, còn có nguy cơ phải chết, 
vậy mà bây giờ A Phủ ñã có tự do. Chính Mị là người ñem tự do cho A Phủ, sao Mị lại không ñem lại 
tự do cho mình ? Sự tự do của A Phủ ñã khơi lên khát vọng tự do trong Mị. Khát vọng ấy bùng cháy dữ 
dội, khiến Mị chẳng còn sợ “con ma” nhà thống lí, bất chấp mọi sự ràng buộc, Mị chạy theo A Phủ. 
Chạy theo A Phủ, chẳng những Mị có tự do mà còn có hạnh phúc. Thoát khỏi nhà Pá Tra, sang Phiềng 
Sa Mị và A Phủ ñã thành vợ chồng, A Phủ ñã ñem lại hạnh phúc cho Mị, hay cũng chính là Mị ñã ñem 
lại hạnh phúc cho chính mình. 
Thể hiện sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, nhà văn Tô Hoài ñã rất thành công trong 
miêu tả tâm lí nhân vật. Tâm trạng và hành ñộng khá phức tạp của nhân vật Mị trong ñêm mùa xuân, 
trong ñêm cứu A Phủ ñã ñược nhà văn diễn tả, lí giải một cách cụ thể, sinh ñộng, hợp lí. 
Những trang viết của nhà văn Tô Hoài về sức sống của nhân vật Mị khiến ta nhớ ñến nhà văn 
Nam Cao. Nếu như Nam Cao ñã phát hiện và miêu tả bản chất lương thiện của Chí Phèo khi Chí ñã 
mất cả nhân hình lẫn nhân tính, thì ở ñây, nhà văn Tô Hoài ñã phát hiện và miêu tả sức sống tiềm tàng 
mãnh liệt trong cái dáng vẻ “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” của nhân vật Mị. Hai nhà văn tài 
năng có sự gặp gỡ, tương ñồng. 
ÔN TẬP VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ðẠI Thầy giáo Nguyễn Văn Ưng 
Trang 11 
Trong văn học, ta cũng từng gặp những nhân vật có ý thức vươn lên, muốn thoát khỏi số 
phận ñau khổ. Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du khi bị bán vào lầu xanh, nàng ñã cố 
tìm cách thoát khỏi cuộc sống tủi nhục. Nhưng khi vào lầu xanh lần thứ hai thì Thúy Kiều ñành chấp 
nhận số phận: ‘Cũng ñành nhắm mắt ñưa chân – Mặc cho con tạo xoay vần làm sao”. Nhân vật chị Dậu 
trong tiểu thuyết “Tắt ñèn” của nhà văn Ngô Tất Tố thì ñã xô ngã tên cai lệ ñể bảo vệ chồng, khi anh 
Dậu ñang bị ốm mà bị bắt trói. Nhưng hành ñộng của chị Dậu chỉ có tính tự phát, nhất thời, là “tức 
nước vỡ bờ” mà thôi. Còn ở nhân vật Mị, khát vọng tự do, hạnh phúc và sự vươn lên ñể có tự do, hạnh 
phúc là quá trình tự giác. Nó bắt ñầu bằng ý nghĩ muốn tự tử khi mới bị bắt vào nhà Pá Tra. Sau ñó, nó 
tồn tại và ñược nuôi dưỡng âm thầm mà mãnh liệt trong tâm hồn Mị. Trong ñêm mùa xuân, sức sống 
ấy ñã bùng lên. Tuy bị dập tắt phũ phàng nhưng ñó chính là “cuộc tập dượt” ñể trong ñêm cứu A Phủ 
Mị ñã thành công. Hành ñộng của Mị là tất yếu theo theo qui luật tâm lí của con người. 
Xây dựng nhân vật Mị với sức sống tiềm tàng mãnh liệt, nhà văn Tô Hoài ñã thể hiện rõ 
tư tưởng nhân ñạo của mình. Không chỉ tố cáo tội ác tàn bạo của giai cấp thống trị, cảm thông với 
người lao ñộng có số phận bi thảm, mà nhà văn ñã phát hiện và khẳng ñịnh những phẩm chất tốt ñẹp 
của họ, ở ñây là nhân vật Mị. Chẳng những thế, kết thúc tác phẩm có hậu theo lối truyền thống, nhà văn 
Tô Hoài ñem lại niềm tin cho con người, chỉ ra cho những người có số phận bi thảm con ñường ñể 
thoát khỏi số phận ấy: hãy vùng lên ñể tự cứu mình. Sức sống tiềm tàng của Mị cũng chứng tỏ một 
chân lí: Bạo lực không thể ñè bẹp ñược khát vọng tự do. Tư tưởng nhân ñạo trong “Vợ chồng A Phủ” 
khác hẳn với văn học hiện thực trước Cách mạng. 
Tóm lại, nhân vật Mị có một với sức sống tiềm tàng mạnh mẽ. Luôn có khát vọng vươn lên 
trong cuộc sống và ñã ñấu tranh giành ñược tự do, hạnh phúc là một phẩm chất tốt ñẹp của Mị. Nhân 
vật Mị ñược nhà văn Tô Hoài miêu tả và khám phá trong chiều sâu tâm hồn, trong những biến thái 
phức tạp của tâm trạng. Miêu tả thành công sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, nhà văn Tô Hoài ñã 
thể hiện rõ tư tưởng nhân ñạo của mình. Nhân vật Mị là linh hồn của truyện ngắn “Vợ chồng A 
Phủ”, khiến cho thiên truyện này, qua nửa thế kỉ, vẫn có sức hấp dẫn mạnh mẽ với người ñọc. “Vợ 
chồng A Phủ” chắc chắn sẽ là một tác phẩm sống mãi với thời gian. Và với truyện ngắn này, có thể gọi 
Tô Hoài là “nhà văn của Tây Bắc.” 
   
Biên Hòa, 17/01/2010 

Tài liệu đính kèm:

  • pdfOn thi TN 2010 Vo chong A Phu.pdf