Tài liệu ôn tập khối 12

Tài liệu ôn tập khối 12

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

A. Hướng dẫn cách làm bài:

 I. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí:

1. Mở bài:

- Giới thiệu ý có lien quan để dẫn vào tư tưởng, đạo lí.

- Nêu vấn đề:

˚ Nếu đề bài có câu trích dẫn thì ghi lại nguyên văn câu trích và nhận đúng hay không đúng.

˚ Nếu đề bài không có câu trích dẫn thì nêu ý của đề và nêu nhận định phù hợp với đề bài.

2. Thân bài:

 

doc 15 trang Người đăng hien301 Ngày đăng 09/05/2017 Lượt xem 523Lượt tải 1 Download
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập khối 12", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A. Hướng dẫn cách làm bài:
	I. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí:
1. Mở bài:
- Giới thiệu ý có lien quan để dẫn vào tư tưởng, đạo lí.
- Nêu vấn đề: 
˚ Nếu đề bài có câu trích dẫn thì ghi lại nguyên văn câu trích và nhận đúng hay không đúng.
˚ Nếu đề bài không có câu trích dẫn thì nêu ý của đề và nêu nhận định phù hợp với đề bài.
2. Thân bài:
Ý 
Tư tưởng đúng
Tư tưởng sai
1
Làm rõ tư tưởng, đạo lí (giải thích, có thể nêu ví dụ)
2
Phân tích những mặt đúng, chỉ ra ý nghĩa, tác dụng của của tư tưởng, đạo lí
Phân tích các mặt sai, chỉ ra tác hại của tư tưởng, đạo lí.
3
Bác bỏ những tư tưởng sai lệch có liên quan đến vấn đề.
Nêu quan điểm đúng có lien quan đến vấn đề, chỉ rõ ý nghĩa, tác dụng.
4
Rút ra bài học nhận thức và hành động
Rút ra bài học nhận thức và hành động.
3. Kết bài: Nhận định chung, cảm nghĩ chung về tư tưởng, đạo lí.
II. Nghị luận về một hiện tượng đời sống:
1. Mở bài:
- Giới thiệu ý có liên quan để dẫn vào hiện tượng.
- Nêu vấn đề: Nêu hiện tượng và nhận định chung (là hiện tượng tốt thì cần học tập phát huy, là hiện tượng xấu thì cần khắc phục)
2. Thân bài:
Ý 
Hiện tượng xấu
Hiện tượng tốt
1
Trình bày về hiện tượng (giải thích, nêu biểu hiện)
2
Phân tích tác hại của hiện tượng.
Phân tích ý nghĩa của hiện tượng.
3
Phân tích nguyên nhân của hiện tượng.
Phê phán hiện tượng trái ngược.
4
Đề xuất biện pháp khắc phục.
Đề xuất phương hướng rèn luyện.
3. Kết bài: Kết luận chung về hiện tượng. Nêu cảm nghĩ cá nhân.
B. Một số dàn bài tham khảo: 
1. Hãy viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của anh/chị về mối quan hệ giữa tài và đức.
	Gợi ý:
a. Giải thích khái niệm:
	- Tài: tài năng, năng lực, kĩ năng, kĩ xảo của con người trong lao động. Tài là kết quả của nhiều yếu tố: năng khiếu bẩm sinh, sự cần cù trong học tập, sự chăm chỉ rèn luyện trong lao động và cuộc sống. Tài biểu hiện trong lao động chân tay và lao động trí óc.
	- Đức: đạo đức, phẩm chất đạo đức, nhân cách của một con người. Đức là kết quả của nhiều yếu tố: bản chất thiên phú, môi trường sinh sống, học tập trong gia đình, nhà trường, xã hội, công phu trau dồi, tu dưỡng của bản thân được soi sáng bởi một lí tưởng. Đức biểu hiện trong suy nghĩ, lời nói, hành động của con người và trở thành một lẽ sống đẹp.
b. Nghị luận về mối quan hệ khắng khít giữa tài và đức:
	- Có tài mà không có đức là người không trọn vẹn. Họ có thể được nhiều người nể phục, nhưng họ dễ trở nên kiêu căng, ngạo mạn, độc ác, dễ trở thành kẻ xấu xa, nguy hiểm cho gia đình, xã hội, con người (người con bất hiếu, học trò bất xứng, công dân phạm pháp)
	- Có đức mà không có tài cũng là người không trọn vẹn. Người có đức thường được mọi người kính trọng. Nhưng có đức mà không có tài thường khó thực hiện được chức trách, khó hoàn thành được nhiệm vụ và khó có kết quả cao trong công việc.
	- Đức và tài có quan hệ gắn bó với nhau. Đức là nền tảng giúp cho tài bay cao vững chắc. Thiếu đức, tài sẽ giống như quả bóng không được níu giữ: quả bóng không càng bay cao càng dễ vỡ, quả bóng mang độc tố càng bay cao càng nguy hiểm. Đức giúp tài được nâng cao giá trị của sự tài ba. Có tài, tấm gương sáng của đức lại càng thêm tỏa sáng.
	- Trước đây, cha anh ta quan niệm tài và đức là chuyên và hồng. Hồ Chí Minh cũng từng nói: có tài mà không có đức thì vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Người có đức có tài là người cao quý, là hiền tài, là vốn quý của quốc gia.
c. Bài học rút ra: 
	- Về nhận thức: Thấy được mối quan hệ gắn bó khắng khít giữa tài và đức. Ngày nay, tài là kĩ năng nghề nghiệp, óc sáng tạo; đức là phẩm chất của người Việt Nam yêu nước, yêu người, phấn đấu cho lí tưởng dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc.
	- Về tình cảm: Tình cảm làm cơ sở cho sự phấn đấu rèn luyện, tu dưỡng đức và tài là tình cảm chân thật yêu nước, yêu người.
	- Có quyết tâm phấn đấu, rèn luyện bản thân trở thành người thật sự có tài, có đức góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay.
2. Bài học cuộc sống được rút ra từ lời tâm sự của nữ nhà văn Mĩ Helen Keller: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để đi giày”.
	Gợi ý:
a. Giải thích:
- “đã khóc”: Sự buồn bã, đau xót và tuyệt vọng, buông xuôi.
- “không có giày để đi”: Hoàn cảnh thiếu thốn, khó khăn về vật chất.
- “không có chân để đi giày”: Hoàn cảnh bất hạnh, nghiệt ngã của số phận.
- “đãcho đến khi”: Sự nhận thức, ngộ ra một vấn đề trong cuộc sống
→ Ý nghĩa của lời tâm sự: Sự thiếu thốn, khó khăn của riêng ta chẳng thấm gì nếu so sánh với những xót đau, bất hạnh của nhiều người khác quanh ta.
b. Bình luận:
- Cuộc sống của mỗi người luôn có thể gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Trước những điều đó, con người nếu thiếu bản lĩnh, nghị lực và nhận thức dễ buồn đau, thất vọng và buông xuôi. Tuy nhiên, nếu bước ra cuộc đời, hoặc nhìn lại chung quanh, ta sẽ thấy có những con người phải chịu những thiệt thòi, bất hạnh hơn ta rất nhiều.
- Nhận thức về điều đó, một mặt, ta phải tự vươn lên hoàn cảnh của chính mình – bởi thực ra, nó chưa thật sự đáng sợ như ta nghĩ; mặt khác, phải hiểu rằng: chính hoàn cảnh khó khăn ấy là thử thách, tôi luyện để ta ngày càng trưởng thành, hoàn thiện.
- Cuộc sống của mỗi người được quyết định bởi sự tự nhận thức, bản lĩnh và nghị lực vươn lên không ngừng. Hơn thế nữa, ta còn phải nhìn ra cuộc đời để nhận biết, đồng cảm, chia sẻ; từ đó mà thêm động lực, thêm tin yêu để sống, làm việc và cống hiến.
3. Nhạc sĩ thiên tài người Đức Beethoven nói: “Trong cuộc sống, không có gì cao quý và tốt đẹp hơn là đem lại hạnh phúc cho người khác”. Anh/chị hãy trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến trên.
	Gợi ý:
a. Giải thích: 
- Hạnh phúc: Cuộc sống tốt đẹp, niềm vui, sự thỏa mãn về tinh thần, tình cảm của con người
- Câu nói thể hiện quan niệm sống đẹp, vị tha.
b. Bình luận:
- Trong cuộc sống, ai cũng tìm kiếm hạnh phúc nhưng quan niệm về hạnh phúc của mỗi người khác nhau. Có người coi sự thỏa mãn vật chất, tình cảm của riêng mình là hạnh phúc. Nhưng cũng có không ít người quan niệm hạnh phúc là cống hiến, là trao tặng. Đối với họ, cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người biết hi sinh cho hạnh phúc nhân loại. Beethoven quan niệm như thế.
- Những người biết sống vì người khác, đem lại hạnh phúc cho người khác là những người có tấm lòng nhân hậu, có cuộc sống đầy ý nghĩa cao cả, đáng trân trọng. (Nêu dẫn chứng làm rõ luận điểm)
- Phê phán lối sống vị kỉ đối với nhân loại, xã hội, như Victor Huygo đã nói: “Kẻ nào vì mình mà sống thì kẻ ấy vô tình đã chết với người khác”.
- Liên hệ bản thân.
4. Vai trò của gia đình trong cuộc sống ngày nay.
	Gợi ý:
a. Giải thích:
- Gia đình: Tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái.
- Vì vậy gia đình có giá trị bền vững và vô cùng to lớn không bất cứ thứ gì trên cõi đời này sánh được, cũng như không có bất cứ vật chất cũng như tinh thần nào thay thế nổi. Chính gia đình là cái nôi nuôi dưỡng, chở che cho con người khôn lớn.
→ Gia đình có vai trò to lớn đối với con người.
b. Chứng minh vấn đề:
- Mỗi con người sinh ra và lớn lên, trưởng thành đều có sự ảnh hưởng, giáo dục to lớn từ truyền thống gia đình. Ví dụ: Trong văn học, Nguyễn Du chịu ảnh hưởng lớn từ truyền thống khoa bảng của gia đình mình. Trong cuộc sống, Nguyễn Hữu Ân biết nghe lời mẹ
- Gia đình là cái nôi hạnh phúc của con người từ bao thế hệ: đùm bọc, che chở, giúp con người vượt qua những khó khắn, trở ngại trong cuộc sống.
c. Khẳng định vấn đề:
- Khẳng định vai trò, giá trị to lớn của gia đình đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của con người, là nền tảng để con người vươn lên trong cuộc sống.
- Trong thực tế cuộc sống, có rất nhiều người ngay từ khi sinh ra đã không được sự chở che, đùm bọc, giáo dục, nâng đỡ của gia đình nhưng vẫn thành đạt, trở thành con người hữu ích của xã hội.
- Mỗi con người cần biết bảo vệ, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, hạnh phúc. Muốn làm được điều đó, trong gia đình, mọi người phải biết thương yêu, đùm bọc, chở che cho nhau.
- Phê phán những hành vi bạo lực trong gia đình, thói gia trưởng
5. Trình bày suy nghĩ về ý kiến sau: “Một người đã đánh mất niềm tin vào bản thân thì chắc chắn sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá khác”. ( Sách Dám thành công – NXB trẻ)
	Gợi ý:
- Giới thiệu được vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của niềm tin vào chính bản thân mình trong cuộc sống của mỗi con người.
- Giải thích khái niệm niềm tin vào bản thân: Đó là ý thức về năng lực, phẩm chất, giá trị của mình trong cuộc sống, biết đánh giá được vị trí, vai trò của mình trong các mối quan hệ trong cuộc sống.
- Vì sao đánh mất niềm tin vào bản thân thì sẽ đánh mất nhiều thứ quý giá khác:
	˚ Mình là người hiểu rõ mình nhất, đánh mất niềm tin vào bản thân sẽ trở thành người không có ý chí, không có nghị lực, không có quyết tâm, không biết mình là ai, sống để làm gì. Vì thế, mọi thứ khác như tiền bạc, công danh, sẽ trở thành vô nghĩa.
˚ Không có niềm tin vào bản thân sẽ không thể có cuộc sống độc lập, dễ bỏ qua các cơ hội trong cuộc sống, dễ đổ vỡ, dễ sa ngã, đánh mất chính mình.
˚ Nhiều bạn trẻ vì sống quá đầy đủ, được bao bọc từ nhỏ nên khi phải đối diện với thử thách cuộc sống thì không thể tự sống bằng chính khả năng của mình, không đủ bản lĩnh sống, dẫn đến phải gục ngã, đầu hàng trước cuộc sống.
- Phải làm gì để xây dựng niềm tin vào bản thân:
˚ Đối với mỗi cá nhân, phải không ngừng học tập trau dồi, rèn luyện về kiến thức và đạo đức, không ngừng giao lưu học hỏi, sớm hình thành lí tưởng sống và dám đấu tranh để thực hiện lí tưởng đó.
˚ Đối với các cơ quan quản lí xã hội: xây dựng và phát huy lối học sáng tạo, học đi đôi với hành, học kết hợp với ứng dụng; giáo dục ý thức cá nhân và hình thành tính tự tin, giàu tự trọng cho thế hệ học sinh, sinh viên; động viên, trân trọng những cá nhân dám nghĩ dám làm.
- Liên hệ bản thân.
6. Chứng minh rằng tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp đã tạo ra cái nhìn mới về hạnh phúc.
	Gợi ý:
- Hạnh phúc được xây đắp bằng nghị lực của bản thân, của việc chấp nhận và tự vượt lên trên hoàn cảnh. Sống là phải có ích không chỉ cho riêng mình mà còn cho cả những người khác nữa.
- Niềm tin là sức mạnh tạo nên nghị lực để duy trì sự sống. Niềm tin sẽ giúp con người vượt qua mọi gian lao thử thách. Đây là niềm tin không chỉ vào chính mình mà còn là niềm tin vào chính những người khác, tin vào cái thiện, vào lòng nhân ái trong cuộc đời, niềm tin vào đồng đội.
- Nhân vật Xô-cô-lốp là một nhân vật biết sống, không ỷ lại, không chờ đợi những ân huệ ban phát. Sống đối với anh là không ăn bám, không dựa dẫm, là phải làm việc. Sống là vì mình nhưng cũng là vì người và cho đời. Anh nhận bé Va-ni-a làm con nuôi không phải xuất phát từ những động cơ thấp kém hay những toan tính vụ lợi mà vì trách nhiệm của con người đối với đồng loại. Và đó là hạnh phúc chân chính.
7. Một quyển sách tốt là một người bạn hiền.
	Gợi ý:
a. Nêu vấn đề: Sách là một phương tiện quan trọng giúp ta rất nhiều trong quá trình học tập và rèn luyện, giúp ta giải đáp th ... ởi con người có tâm hồn.
- Bình luận: Đời sống tâm hồn tàn lụi không chỉ gây tổn hại cho chính bản thân mình mà còn gây đau khổ cho những người xung quanh, làm cho xã hội trở nên tẻ nhạt, tầm thường, nguy hiểm. Người có tâm hồn đẹp, sống đẹp thì sẽ trở nên có ý nghĩa với mình, với xã hội, sẽ bất tử ( Chứng minh bằng những tấm gương sống đẹp trong lịch sử, trong thực tế, trong văn học).
- Bài học: Câu nói rất sâu sắc với bản thân và mọi người, cần rèn luyện đời sống tâm hồn mọi lúc mọi nơi, từ những việc nhỏ cho đến những việc lớn
22. Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.
	Gợi ý:
- Giải thích ngắn gọn ý nghĩa của mục đích học tập:
˚ Học để biết là bước khởi đầu để có tri thức, có hành trang chủ động bước vào cuộc sống.
˚ Học để làm là bước tiếp theo để ứng dụng, thực hành một cách thiết thực, hiệu quả, không bỏ phí những tri thức đã lĩnh hội được.
˚ Từ hai mục đích trên, cần tiếp tục học để chung sống, hòa nhập cộng đồng, hội nhập với thế giới trong thời đại mới, cộng tác để cùng tiến bộ.
˚ Cuối cùng, hoàn tất quá trình học tập là cái đích cuối “học để tự khẳng định mình”, học làm chủ bản thân, hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện cái tôi của mỗi người trong mối quan hệ với cộng đồng.
→ Như vậy, từng mục đích học tập cụ thể thống nhất với nhau theo một quá trình không ngừng tiến bộ của mỗi con người. Cũng cần phải hiểu rằng, việc học trước hết là hoạt động của mỗi con người, nhưng cũng là mục đích xã hộiBởi lẽ, sự tiến bộ của mỗi cá nhân, sự hoàn thiện của từng con người là cơ sở cho sự tiến bổ của cộng đồng. Vì thế, mục đích xã hội của việc học tập được nhấn mạnh: “học để chung sống, học để tự khẳng định mình”. Cũng có thể xem đây là những mục đích cao nhất của quá trình học tập nhưng là hệ quả của những mục đích trước đó. Có tri thức, có lao động, con người mới hòa nhập được với cộng đồng, và tự khẳng định được chính mình. Mặt khác, khái niệm học ở đây cũng rất mở rộng: học kiến thức, học kĩ năng, học cách sống, học cách giao tiếp, ứng xử, học trong nhà trường, học qua tiếp xúc xã hội, học trong quá trình làm việc
- Bàn luận, mở rộng vấn đề:
˚ Việc học tập với những mục đích tốt đẹp như trên đã đem lại những giá trị gì cho đời sống con người? → xã hội loài người từ mông muội tiến tới văn minh là do học tập. Những nhà nông học như Lương Định Của, Võ Xuân Tòng đã cụ thể hóa lí thuyết bằng những công trình nghiên cứu phục vụ nông dân. Những vấn đề quan tâm của nhân loại hiện nay như AIDS, môi trường, vũ khí hạt nhân, an ninh lương thựccần sự chung tay góp sức của toàn nhân loại.
˚ Con người không học tập sẽ chịu những thiệt thòi, mất mát gì?
˚ Những tấm gương nỗ lực học tập với mục đích tốt đẹp gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
˚ Con người sẽ mắc sai lầm gì khi không có mục đích học tập đúng đắn?
- Trình bày trải nghiệm của bản thân:
˚ Bản thân anh/chị đã xác định mục đích học tập như thế nào?
˚ Anh/chị có bao giờ mắc phải sai lầm trong việc xác định mục đích học tập không? Vì sao?
˚ Anh/chị đã và sẽ làm gì để tiếp tục thực hiện mục đích học tập của mình?
23. Bàn về tác dụng của việc đọc sách.
	Gợi ý:
- Nêu được vấn đề cần nghị luận.
- Sách là sản phẩm tinh thần của con người, là kho tàng tri thức vô tận của nhân loại.
- Đọc sách có nhiều tác dụng: mở rộng, nâng cao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, lẽ sống, đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnhcho con người.
- Phê phán hiện tượng lười đọc sách và đọc sách thiếu lựa chọn.
- Khuyến khích sự đọc sách sáng tạo.
- Trải nghiệm của bản thân về vấn đề đã trình bày.
24. Vào đại học là con đường lập thân duy nhất.
	Gợi ý:
- Vào được trường đại học mà mình yêu thích là nguyện vọng chính đáng của đa số thanh niên, HS vì:
	˚ Trường đại học là môi trường học tập lí tưởng của thanh niên, HS.
˚ Là nơi trang bị cho thanh niên, HS những tri thức cơ bản, hiện đại để có thể tiếp tục học lên, để có kiến thức làm việc..
˚ Là môi trường để thanh niên rèn luyện tính tự lập, để tự khẳng định mình, để rèn luyện các kĩ năng sống, để hoàn thiện nhân cách
- Nhưng nếu không vào được đại học vì nhiều lí do khác nhau thì thanh niên, HS cũng còn nhiều cách để lập thân, lập nghiệp:
˚ Vào học tại các trường cao đẳng, các trường trung cấp chuyên nghiệp, các trường dạy nghềrồi phấn đấu học tiếp bằng nhiều con đường
˚ Học một nghề mà mình yêu thích, mà nhu cầu xã hội đang cần để tạo dựng cho mình một nghề phù hợp.
˚ Tự nâng cao tay nghề trong quá trình lao động.
- Như vậy, vào đại học không phải là con đường lập thân duy nhất của thanh niên, HS. Khi đã có mục đích sống đúng đắn, có nghị lực vươn lên, có niềm tin, có bản lĩnh, thanh niên sẽ có nhiều con đường để lập thân, lập nghiệp. Nhiều tấm gương trong văn học, trong cuộc sống đã chứng tỏ điều đó (Lấy một số dẫn chứng minh họa).
25. Trình bày quan điểm của mình trước cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.
	Gợi ý:
- Nêu hiện tượng: tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục.
- Tác hại:
˚ Tiêu cực trong thi cử làm cho HS ỷ lại, không tự phát huy năng lực học tập của mình, tạo ra những “tiến sĩ giấy” làm cản trở sự phát triển của xã hội.
˚ Bệnh thành tích trong giáo dục: tạo ra những kết quả ảo, lừa dối xã hội, lừa dối chính bản thân mình, gây ra một thói xấu khác là chủ quan, tự mãn một cách vô lối.
- Biện pháp khắc phục:
˚ Tổ chức thi cử nghiêm túc, giám thị và giám khảo gương mẫu, giáo dục lòng tự trọng cho người học, có quy trình tuyển chọn và đào thải khoa học, xử lí nghiêm các hành vi gian lận trong thi cử
˚ Có lương tâm và trách nhiệm khi làm việc, cũng như khi báo cáo, có sự kiểm tra chặt chẽ về kết quả đạt được trên báo cáo so với thực tế, xử lí nghiêm khắc những trường hợp báo cáo không đúng sự thật.
26: “Người hạnh phúc là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người khác” (Đi-đơ-rô). Suy nghĩ của em về câu nói trên?
1. Mở bài:
- Hạnh phúc là mục đích mà cả nhân loại hằng ao ước muôn đời. Hạnh phúc là gì? Sống như thế nào để có hạnh phúc.
- Đi-đơ-rô, nhà tư tưởng lớn của nước Pháp đã có câu trả lời đáng cho mọi người suy nghĩ.
2. Thân bài:
- Luận điểm 1: Trả lời câu hỏi: Hạnh phúc là gì? Câu nói có ý nghĩa gì?
+ Có nhiều cách trả lời khác nhau: là sự thoả mãn những khao khát trong đời sống; là sự thành công sau những thất bại để đạt được mục đích đã được đặt ra.
+ Điều chung nhất của hạnh phúc: sự mãn nguyện, cảm thấy mình đã sống đúng với ý nghĩa của sự sống.
- Luận điểm 2: Đánh giá ý nghĩa câu nói
+ Câu nói đã khẳng định một số lối sống đúng đắn, tốt đẹp. Hạnh phúc của một các nhân phải gắn liền với hạnh phúc của người khác.
+ Đây cũng là lối sống mà các bậc hiền triết ngày xưa, dân tộc ta luôn đề cao. Dẫn chứng: Đạo phật khuyên người ta yêu thương muôn loài, dân tộc khuyên “Thương người như thể thương thân”; vua Lí Thánh Tông thấy con gái mình mặc áo ấm mà thương cho những tù nhân giá rét trong ngục
- Luận điểm 3: Bàn bạc, nêu ý kiến bản thân: Sống như thế nào là đem đến hạnh phúc cho nhiều người?
+ Là làm được những viện to lớn, thoả mãn niềm mong ước của nhiều người, của nhân loại. Dẫn chứng: nhà phát minh, một bậc anh hùng giải phóng dân tộc.
+ Trong cuộc sống đời thường: hết lòng giúp đỡ người khác không chỉ một lần mà là suốt cả cuộc đời.Dẫn chứng: Nhà bác học Pax-tơ hạnh phúc khi cứu được em bé và tìm được thuốc chủng ngừa; một bà xơ chăm sóc những người bị bệnh phong,
+ Đạo lí của câu nói đòi hỏi hành động tích cực: không chỉ yêu thương mà còn “đem lại hạnh phúc” cho nhiều người. Đòi hỏi sự quên mình, lấy hạnh phúc của mọi người làm hạnh phúc của mình, có thể xả thân vì hạnh phúc của mọi người.
3. Kết bài:
- Ít nhất một lần trong đời, ai cũng đặt câu hỏi: Hạnh phúc là gì? Sống như thế nào để có hạnh phúc?
- Hãy một lần nghĩ và làm theo phương châm của Đi-đơ-rô.
27 “Vào đại học, có phải là con đường tiến thân duy nhất?”
1. Mở bài:
- Tình hình hiện nay: Mỗi năm hàng triệu gia đình, học sinh đi thi.
- Phải chăng: Vào đại học là con đường tiến thân duy nhất tuổi trẻ ngày nay?
2. Thân bài:
- Luận điểm 1: Vào đại học đó là con đường tiến thân đẹp đẽ và đáng mơ ước.
+ Luận cứ 1: Nền kinh tế tri thức ngày nay cần phải có trí thức chuyên ngành mới có thể tham gia vào hệ thống sản xuất và các dịch vụ xã hội.
+ Luận cứ 2: Tuổi trẻ thời kì tốt nhất cho việc tiếp thu tri thức.
+ Luận cứ 3: Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học.
- Luận điểm 2: Không phải bất kì ai sau khi học xong trung học, cũng phải vào đại học. Có nhiều lí do:
+ Luận cứ 1: Hoàn cảnh gia đình khó khăn
+ Luận cứ 2: Nguyên do chủ quan: sức khoẻ, trình độ.
- Luận điểm 3: Còn có con đường nào khác?
+ Luận cứ 1: Không nên coi con đường vào đại học phải đạt được bằng bất cứ giá nào.
+ Luận cứ 2: Nếu vì hòan cảnh: Có thể vừa học vừa làm.
+ Luận cứ 3: Có thể chọn ngành học thấp hơn, sau đó liên thông lên đại học.
+ Luận cứ 4: Chọn nghề chuyên môn và học tốt nghề nghề ấy, trở thành người thợ lành nghề.
- Luận điểm 4: Rút ra bài học cho bản thân.
+ Luận cứ 1: Dù tiến thân bằng con đường nào, cũng phải coi việc học là công việc suốt đời.
+ Luận cứ 2: Không ngừng học tập để bổ sung kiến thức
3. Kết bài:
- Coi chuyện vào đại học sau 12 năm là niềm mong ước đẹp đẽ, cần tập trung và cố gắng thực hiện bằng được.
- Nhưng đó chỉ là một trong những con đường đi đến sự thành công ở đời.
28: Có một lần nào đó, đang đi trên đường, em chợt nhìn thấy một cảnh tượng ngộ nghĩnh: Hai người đàn ông đi xe đạp chẳng may đụng xe vào nhau, cả hai người ngã. Sau đó, cả hai cùng đứng dậy, mỗi người nhìn thoáng vào xe mình, gật đầu chào nhau và đựng xe đi tiếp. Em nghĩ gì về câu chuyện đó?
Dàn ý:
1. Mở bài:
- Kể lại câu chuyện theo đề bài.
- Từ câu chuyện gợi chúng ta suy nghĩ gì?
2. Thân bài:
- Luận điểm 1: Một câu chuyện tưởng buồn mà thành vui.
+ Thật không vui khi phải chứng kiến một tai nạn giao thông dù nhỏ, nhất là trong một buổi sáng đẹp trời.
+ Nhưng thật bất ngờ, tình huống được giải quyết một cách nhanh chóng và giản dị như vậy.
+ Điều vui nhất: họ đã có cách ứng xử thật văn hoá.
- Luận điểm 2: Từ câu chuyện nhỏ, gợi cho ta những điều lớn hơn.
+ Ta cũng có khi lâm vào tình huống như vậy, nhưng cách ứng xử thì khác hẳn: cãi vả, cho mình là người có lí, có thể xông vào không nhịn được
+ Đã có không ít những trường hợp dẫn đến kết quả đáng buồn, đáng tiếc. Ngay cả bản thân mình cũng như vậy.
- Luận điểm 3: Từ đây, ta cần có văn hoá ứng xử.
+ Mỗi con nngười ngày nay trong xã hội, mỗi cách ứng xử của mình đều có tác động đến người khác.
+ Ứng xử của hai người trong câu chuyện trở thành cách ứng xử rất đẹp. đáng được nêu gương. Nhường nhịn nhau thi ta sẽ không thiệt hại gì.
+ Từ tình huống ta suy ra: còn biết bao tình huống khác đòi hỏi ta phải có cách ứng xử có văn hoá: nhường cho người khác như nhường ghế cho người già, phụ nữ, trẻ em khi đi xe, biết xin lỗi, biết cảm ơn, không gây mất trật tự nơi công cộng
+ Xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi có những cách ứng xử như vậy.
3. Kết bài:
- Trong giao lưu quốc tế xã hội ngày nay, nếp ứng xử góp phần nâng cao vị trí của đất nước.
- Các du khách nước ngoài có thể đánh giá ta qua một câu chuyện nhỏ gặp trên đường phố.

Tài liệu đính kèm:

  • doccach lam bai nghi luan xa hoi.doc